NGHĨA VỤ THUẾ ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG GIAO SAU
Bức tranh thị trường cà phê.
Sau gần 2 năm Chính phủ cho phép Techcombank làm cầu nối cho các nhà xuất khẩu cà phê tham gia giao dịch với thị trường kỳ hạn London, theo Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (Vicofa), cả nước có 33 DN đăng ký với Techcombank tham gia giao dịch cà phê qua thị trường LIFFE. Mục tiêu ban đầu của Vicofa và Techcombank là sử dụng công cụ phòng chống rủi ro (hedging) để tránh rủi ro về giá cho thị trường hàng thật (còn gọi là physical). Được biết, hơn nửa sản lượng cà phê robusta xuất khẩu của Việt Nam hiện nay được xuất khẩu thông qua thị trường LIFFE, tức có phòng chống rủi ro và đây là một thành công bước đầu của các nhà xuất khẩu cà phê. Hiện nay ở Tây Nguyên có nhiều người tham gia mua bán cà phê qua mạng nhưng không hề có cà phê nhân. Kiểu mua bán như vậy được giới kinh doanh cà phê gọi là buôn “hàng giấy” và chuyện lời, lỗ không khác gì đánh bạc. Thành thử, cái mà người ta gọi là phòng chống rủi ro đã bị biến tướng. Với giá 18.000 đồng mỗi ký cà phê nhân hiện nay thì để có 1 lot (tương đương 5 tấn robusta) hàng thật, nhà kinh doanh phải bỏ ra 90 triệu đồng, trong khi giao dịch “hàng giấy” thì chỉ cần chưa đến 10 triệu đồng để ký quỹ. Hiện chưa có số liệu thống kê cụ thể số người tham gia kinh doanh “hàng giấy” nhưng nhiều nguồn tin cho thấy, số người tham gia kinh doanh “hàng giấy” ở các tỉnh đã vươn ra ngoài ngành cà phê. Lúc đầu, giao dịch qua LIFFE chỉ có các nhà xuất khẩu cà phê, đại lý với hy vọng tránh rủi ro do biến động giá trên thị trường thế giới. Nay thậm chí bà bán vải, ông bán mui nệm cũng chạy đôn chạy đáo kiếm tiền chơi “hàng giấy”, thậm chí có người còn vay ngân hàng, thế chấp sạp vải. Có lẽ do phải ký quỹ 8-10% giá hàng thật tại cùng thời điểm (gọi là margin) và mở tài khoản ngoại tệ tại Techcombank, nên những người chơi “hàng giấy” “lách” bằng cách giao dịch qua các công ty có đủ điều kiện đăng ký giao dịch với LIFFE thông qua Techcombank. Một chuyên gia cà phê thừa nhận trong 33 DN tham gia giao dịch với LIFFE qua Techcombank thì gần một nửa là DN tư nhân và họ sẵn sàng rủ rê những người khác tham gia giao dịch, được gọi là “nhà cái”.
Các “nhà cái” được hưởng chênh lệch phí giao dịch nộp cho Techcombank mà người chơi “hàng giấy” đóng vào. Chẳng hạn, mức phí giao dịch mà Techcombank thu cả hai chiều mua và bán cho 1 lot là 28 đô la Mỹ nhưng “nhà cái” thu của người chơi 30 đô la Mỹ. Đấy là chưa kể, càng nhiều người tham gia thì khối lượng giao dịch càng lớn và mức phí mà “nhà cái” nộp cho Techcombank càng giảm. Ví dụ, giao dịch cả hai chiều hơn 300 lot trong một tháng thì mức phí giảm xuống 26 đô la Mỹ/lot và hơn 800 lot mỗi tháng thì phí chỉ còn 20 đô la Mỹ nhưng “nhà cái” vẫn thu đủ của người chơi “hàng giấy” 30 đô la Mỹ/lot. Hợp đồng giao sau là hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán quyền tài sản? Trước khi xác định nghĩa vụ thuế cần làm rõ, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai (gọi chung là hợp đồng giao sau- HĐGS) là một hợp đồng mua bán hàng hóa hay là một hợp đồng mua bán quyền tài sản? Giải đáp được câu hỏi này là có thể mở được cánh cửa để đi vào bản chất của loại hợp đồng này. Hiện có hai ý kiến khác nhau về loại hợp đồng này. Ý kiến thứ nhất: khi một người sản xuất (hay gọi chung là người cần hàng hóa) lập một HĐGS để mua một lượng hàng hóa thì đây là một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường ; cầm trong tay hợp đồng là người đó đang giữ một quyền được mua hàng trong tương lai ở một giá định trước. Trong trường hợp họ thấy không cần thiết phải mua hàng nữa thì có thể lập một HĐGS để bán lại hàng hóa đã mua cho người khác.
Như vậy, người đó đã thiết lập một hợp đồng bán quyền (được mua hàng hóa trong tương lai) của mình cho người khác cần hàng. HĐGS trở thành một hợp đồng chuyển quyền. HĐGS được thiết lập ban đầu trở thành đối tượng của HĐGS được thiết lập sau đó. Hay nói cách khác, HĐGS ban đầu trở thành một loại tài sản đem được đem ra giao dịch trong thị trường giao sau (TTGS) hoặc cũng có thể trở thành một loại “chứng khoán khác” được giao dịch trong thị trường chứng khoán (TTCK) hoặc cũng có thể trao đổi trong thị trường tự do (bằng các quan hệ dân sự thông thường). Theo cách hiểu như vậy thì quan hệ hợp đồng trong TTGS sẽ trở nên cực kỳ rối rắm. Có nghĩa là trong TTGS sẽ tồn tại hai loại hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán quyền tài sản. Lúc này, việc phân biệt đâu là hợp đồng mua bán hàng hóa và đâu là hợp đồng mua bán quyền tài sản trở nên khó khăn vì không biết đâu là hợp đồng “sơ cấp” (hợp đồng ban đầu) và đâu là hợp đồng “thứ cấp” (hợp đồng mua bán quyền sau đó). Với loại ý kiến này thì việc phân tích quan hệ hợp đồng trong TTGS trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Ngoài ra, nếu để cho các quan hệ HĐGS được giao dịch tràn lan thì Sàn giao dịch sẽ không kiểm soát được tài khoản bảo chứng của các chủ thể tham gia TTGS; đây là một đặc điểm chỉ có trong TTGS mà không có trong TTCK. Còn ý kiến thứ hai lại cho rằng, trong TTGS chỉ tồn tại một loại hợp đồng mua bán hàng hóa. Khi một người đã lập HĐGS để mua hàng hóa nhưng sau đó lại không muốn mua hàng hóa đó nữa thì họ thiết lập một HĐGS bán loại hàng hóa đó như thông thường và cơ quan thanh lý có trách nhiệm cân đối bù trừ tài khoản kinh doanh của người đó. Và một khi đã nói là trong TTGS chỉ đơn thuần tồn tại một loại hợp đồng mua bán hàng hóa cũng đồng nghĩa với việc HĐGS không trở thành đối tượng được tiếp tục giao dịch, không trở thành một loại chứng khoán khác trong TTCK. Như vậy, HĐGS không trở thành một loại hàng hóa trong TTCK (dẫn đến kết luận là TTGS không thể là một thị trường con của TTCK mà độc lập riêng rẽ so với TTCK) mà ngược lại, đối tượng giao dịch trong HĐGS là tất cả hàng hóa trong TTCK cũng như các hàng hóa trong thị trường mua bán hàng hóa thông thường, chỉ khác một điều là các hàng hóa này được thỏa thuận giao nhận trong tương lai. Chúng tôi thuận theo quan điểm của ý kiến thứ hai bởi vì ý kiến này giúp nhìn nhận quan hệ mua bán trong TTGS một cách đơn giản hơn, đồng thời cũng giúp tách bạch được mối quan hệ độc lập giữa TTGS với TTCK. Từ những lập luận trên, chúng tôi khẳng định: HĐGS là một hợp đồng mua bán hàng hóa. Đồng thời, trong TTGS mặc dù chỉ toàn là hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng vẫn được gọi là thị trường tài chính. Xác định nghĩa vụ thuế Điều 2 Luật thuế GTGT (số 02/1997/QH9) quy định: “Hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 Luật này”. Đối với hàng hóa: HĐGS là một cam kết pháp lý của các bên về việc mua hoặc bán một lượng hàng hóa vào một thời điểm trong tương lai thông qua Sàn giao dịch và các cơ quan trung gian ở một giá được định trước. Sự cam kết pháp lý về một hành vi trong tương lai này có thể được các bên hủy bỏ một cách hợp pháp khi lập một HĐGS khác ngược lại vị thế mà mình đã có. Đây là lý do mà ta có thể chia HĐGS thành hai loại :
- HĐGS được thanh lý sau khi giao hàng. Đây là loại hợp đồng tồn tại một sự giao hàng thực sự theo như thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp này, về bản chất thì HĐGS tương tự như hợp đồng kỳ hạn (forward). Trường hợp mua bán hàng thật - đây là hành vi xuất nhập khẩu bình thường- trường hợp này hàng hóa giao dịch thuộc diện thuế GTGT (Trừ hàng hóa quy định tại Điều 4-Luật thuế GTGT).
- HĐGS được thanh lý trước ngày giao hàng ghi trong hợp đồng. Đây là loại hợp đồng không có sự giao hàng trên thực tế xảy ra, các bên chấm dứt sự ràng buộc của mình đối với phía bên kia bằng nghiệp vụ thanh toán bù trừ, nghĩa là các bên mua hoặc bán lại chính loại hàng hóa đó ngược với vị thế mà mình đã có (vị thế mua hoặc bán trước đây). Đây là dạng phổ biến, nhờ đó mà tồn tại TTGS. Trường hợp này doanh thu hàng hóa giao dịch “ảo” có thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT ? Trường hợp này có hai ý kiến khác nhau:
+ Ý kiến thứ nhất: Công văn số 650/TCT-PCCS ngày 21/2/2006 của Tổng cục thuế: “Giao dịch mua bán trong giao dịch hợp đồng tương lai là giao dịch không thực hiện tại Việt Nam do vậy không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT”. Ý kiến này xuất phát từ Điều 2- Luật thuế GTGT, tức căn cứ phạm vi lãnh thổ.
+ Ý kiến thứ hai: hàng hóa giao dịch “ảo” trên thuộc đối tượng chịu thuế GTGT nhằm liên hoàn với thuế GTGT đầu vào (liên quan đến giao dịch ảo) đã có thuế GTGT (như phí trả cho Techcombank hoặc “nhà cái” đã có thuế GTGT). Hầu hết các DN có giao dịch “ảo” đều gởi hồ sơ hoàn thuế đến cơ quan thuế, tất nhiên bị từ chối vì chưa có hướng dẫn. Rõ ràng ý kiến thứ hai là không hợp lý, bởi vì trong khuôn khổ Luật thuế GTGT hiện hành, “hàng hóa” quy định tại Điều 2-Luật thuế GTGT là hàng hóa thật, còn “hàng hóa” trong ý kiến thứ hai là hàng hóa “ảo”. Và điều cần xem xét ở đây, doanh thu trong giao dịch “ảo” cần được ghi nhận vào doanh thu, chi phí hoạt động tài chính, kể cả trường hợp bị lỗ. Ở đây điều mà các DN, nhất là DN nhà nước quan tâm, Nhà nước khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể về các giao dịch trên, tránh tình trạng bị các cơ quan chức năng “sờ tới, vì cố ý làm trái”, hậu quả sẽ khó lường. Đối với dịch vu: Theo quy định hiện hành thì phí giao dịch hợp đồng tương lai mà các DN tham giao dịch phải trả cho Techcombank (tức dịch vụ thực hiện tại Việt Nam) thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Trường hợp, DN thực hiện giao dịch bằng hình thức ủy thác thông qua “nhà cái” thì phí giao dịch của DN ủy thác phải trả cho doanh nghiệp nhận ủy thác cũng thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, nếu đầu ra giao dịch bằng hàng hóa “ảo” - không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì thuế GTGT đầu vào chỉ được hạch toán vào chi phí.(Tạp chí thuế)

